kiemtoannoibo.com.vn

Tìm hiểu về Thuế Nhà thầu

Đăng lúc: Thứ sáu - 24/02/2012 11:47 - Người đăng bài viết: kiemtoannoibo
thuế nhà thầu

thuế nhà thầu

Trong số các sắc thuế của Việt Nam thì "Thuế Nhà thầu" không được ban hành theo bất cứ Luật hay Pháp lệnh nào. Bộ Tài chính quy định việc thu loại thuế này dựa trên hai Luật Thuế Giá trị gia tăng (GTGT) và Thuế Thu nhập doanh nghiệp (TNDN), trước đây là thuế Doanh thu và thuế Lợi tức. Sắc thuế này hình thành ngay từ đầu năm 1992, sau khi Luật Đầu tư nước ngoài sửa đổi năm 1991 có hiệu lực. Đối tượng chịu thuế là những nhà thầu nước ngoài có phát sinh thu nhập tại Việt Nam, nhưng đối tượng nộp thuế lại là đối tác Việt Nam thông qua cái gọi là... nộp hộ
Những chặng đường tính thuế nhà thầu
Văn bản đầu tiên quy định về thuế nhà thầu là Thông tư số 30/TC-TCT ngày 18/7/1992 của Bộ Tài chính. Tại thời điểm này, thuế nhà thầu chỉ áp dụng cho 5 lĩnh vực bao gồm: sản xuất, xây dựng cơ bản, vận tải, dịch vụ và thương nghiệp. Trong đó, hai lĩnh vực sản xuất, xây dựng cơ bản được tính thuế 4% trên doanh thu. Ba lĩnh vực còn lại chịu mức thuế cao hơn gấp đôi đến 8%
Đến năm 1994, khi thị trường chuyển giao công nghệ trở nên sôi động, Bộ Tài chính ban hành thêm Thông tư số 08/TC-TCT ngày 5/2/1994 nhằm không bỏ sót việc tính thuế nhà thầu đối với thu nhập từ việc mua bán bản quyền, bí quyết công nghệ... Thuế suất được xác định dựa theo đối tượng có thu nhập là cá nhân hay pháp nhân. Nếu là cá nhân thì thu nhập từ 1,8 triệu đồng trở lên mới bị tính thuế và tính theo thuế suất 5%. Nếu là pháp nhân thì thuế suất được xác định là 10 hay 15% tùy thời hạn hợp đồng chuyển giao công nghệ kéo dài không quá hay nhiều hơn 5 năm.

Năm 1996, đến lượt các khoản tiền thuê máy móc, thiết bị, xe cộ của nước ngoài để sử dụng tại Việt Nam bị đưa vào diện chịu thuế nhà thầu theo Thông tư số 61/TC-TCT ngày 23/10/1996. Cũng trong năm này, các đại lý chuyển phát nhanh quốc tế khi nhận được thù lao chuyển phát của nước ngoài phải trích nộp thuế nhà thầu theo Thông tư số 83/TC-TCT ngày 25/12/1996.
Năm 1999, Việt Nam chính thức áp dụng Luật thuế GTGT số 02/1997/QH9 và Luật thuế TNDN 03/1997/QH9, thay thế Luật thuế Doanh thu và thuế Lợi tức bị cho là thuế chồng thuế. Bàn chất của thuế GTGT là chỉ tính thuế trên phần giá trị gia tăng của hàng hóa hoặc sản phẩm. Do đó, "luật" thuế Nhà thầu của Bộ Tài chính cũng buộc phải thay đổi cách xác định trị giá tính thuế. Ngày 22/12/1998, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số169/1998/TT-BTC quy định lại cách tính thuế nhà thầu dựa trên tỷ lệ GTGT và thuế suất GTGT, đồng thời bổ sung nhóm thu nhập về lãi tiền vay nước ngoài vào diện chịu thuế nhà thầu. Thông tư này có thêm bản sửa đổi là Thông tư số 95/1999/TT-BTC ngày 06/08/1999.
Năm 2005, sau khi thuế GTGT và thuế TNDN được sửa đổi theo Luật số 07/2003/QH11 và 09/2003/QH11, Bộ Tài chính cũng đã làm mới lại các quy định về thuế Nhà thầu theo Thông tư 05/2005/TT-BTC ngày 11/1/2005. Khác với quy định tại Thông tư số 169/1998/TT-BTC chỉ bắt buộc đối tác Việt Nam của Nhà thầu nộp thay thuế nhà thầu, Thông tư nào cho phép Nhà thầu nước ngoài nếu có đăng ký mã số thuế tại Việt Nam và có thực hiện chế độ kế toán Việt Nam thì được tự kê khai thuế GTGT và thuế TNDN theo quy định hiện hành của 2 luật thuế này. Ngược lại, nếu không thực hiện chế độ kế toán Việt Nam thì bên Việt Nam nộp thay và xác định doanh thu tính thuế theo tỷ lệ
Đến 2009, Luật thuế GTGT và thuế TNDN lại một lần nữa thay đổi theo Luật số 13/2008/QH12 và 14/2008/QH12. Cùng thời điểm này, việc tính thuế thu nhập cá nhân cũng được chuyển đổi từ Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao thành Luật thuế thu nhập cá nhân (TNCN). Bộ Tài chính lại phải thay đổi "luật" thuế nhà thầu của mình bằng Thông tư 134/2008/TT-BTC ngày 31/12/2008. Thông tư này đến ngày 9/10/2009 thì có thêm Thông tư sửa đổi số 197/2009/TT-BTC . Để phù hợp với thông lệ quốc tế sau khi gia nhập WTO, Thông tư 134/2008/TT-BTC gỡ bỏ việc đánh thuế vào các dịch vụ cung cấp cho đối tác Việt Nam nhưng thực hiện (hoặc tiêu dùng) ngoài lãnh thổ Việt Nam.
Ví dụ:
Công ty H của Hongkong cung cấp dịch vụ thu xếp hàng hoá tại cảng ở Hongkong cho đội tàu vận tải quốc tế của Công ty A ở Việt Nam. Công ty A phải trả cho Công ty H phí dịch vụ thu xếp hàng hoá tại cảng ở Hongkong. Nếu căn cứ theo quy định của Thông tư 05/2005/TT-BTC trước đó thì khi trả khoản phí dịch vụ này, Công ty A phải kê khai và nộp thay thuế nhà thầu cho Công ty H. Nhưng với Thông tư 134/2008/TT-BTC, do dịch vụ được cung cấp và tiêu dùng tại Hongkong (tức ngoài lãnh thổ Việt Nam) được miễn tính thuế nhà thầu
 
Cách tính thuế nhà thầu
Như đã nói ở trên, kể từ Thông tư 05/2005/TT-BTC, Bộ Tài chính đã cho phép các Nhà thầu nước ngoài được đăng ký mã số thuế để kê khai nộp thuế Nhà thầu theo Phương pháp khấu trừ, nếu có văn phòng điều hành tại Việt Nam và đăng ký thực hiện chế độ kế toán Việt Nam. Với phương pháp khấu trừ, việc tính thuế GTGT và thuế TNDN tương tự như một doanh nghiệp Việt Nam
Bài viết này đề cập đến việc tính thuế Nhà thầu theo Phương pháp trực tiếp, quy định tại Mục III Phần B Thông tư 134/2008/TT-BTC. Với phương pháp này, đối tác Việt Nam của nhà thầu phải kê khai và nộp thay
Công thức tính thuế:
Thuế Nhà thầu  =   Thuế GTGT   + Thuế TNDN
Trong đó:
- Việc xác định khoản thuế GTGT (bao gồm đối tượng chịu thuế và thuế suất) căn cứ theo Luật thuế GTGT số 13/2008/QH12. Điều này có nghĩa: nếu mặt hàng hoặc dịch vụ mà Nhà thầu cung cấp cho đối tác Việt Nam thuộc diện miễn tính thuế GTGT (như phần mềm máy tính chẳng hạn)  thì khoản thuế GTGT trong công thức này được xác định là 0 đồng. Ngược lại nếu thuộc diện chịu thuế suất 5% hay 10% thì khoản thuế GTGT nói trên sẽ là:
    Thuế GTGT = Doanh thu tính thuế GTGT  x  tỷ lệ % GTGT (đối chiếu theo bảng 1)   x  thuế suất thuế GTGT
    Doanh thu tính thuế GTGT có thể hiểu là toàn bộ trị giá hợp đồng ký với nhà thầu, bao gồm các khoản chi phí ngoài hợp đồng mà bên Việt Nam trả thay Nhà thầu (nếu có). Nếu hợp đồng có quy định trị giá hợp đồng không bao gồm thuế GTGT thì Doanh thu trước thuế GTGT trong trường hợp này phải quy đổi ra Doanh  thu sau thuế GTGT theo công thức sau:

Doanh thu tính thuế
GTGT
 
=

Doanh thu chưa bao gồm thuế GTGT

 ------------------------------------------------------------
1 -  Tỷ lệ % GTGT trên doanh thu  x  thuế suất thuế GTGT

- Việc xác định thuế TNDN dựa theo Doanh thu tính thuế TNDN và biểu thuế suất thuế TNDN dành cho từng nhóm mặt hàng, dịch vụ (bảng 2). Cụ thể:
    Thuế TNDN = Doanh thu tính thuế TNDN  x  tỷ lệ % TNDN (đối chiếu theo bảng 2)
    Cách xác định Doanh thu tính thuế TNDN cũng tương tự như xác định Doanh thu tính thuế GTGT. Nếu hợp đồng có quy định trị giá hợp đồng không bao gồm thuế TNDN thì Doanh thu trước thuế TNDN cũng được quy đổi theo công thức sau:
Doanh thu tính  thuế
TNDN
 
=

     Doanh thu không bao gồm thuế TNDN 

 -----------------------------------------------------------

   1 - Tỷ lệ thuế TNDN tính trên doanh thu tính thuế

 
- Bảng 1 - Tỷ lệ GTGT:

STT

Ngành  kinh doanh
Tỷ lệ (%) GTGT tính trên doanh thu tính thuế
1 Dịch vụ, cho thuê máy móc thiết bị, bảo hiểm 50
2 a) Xây dựng, lắp đặt có bao thầu nguyên vật liệu hoặc máy móc, thiết bị đi kèm công trình xây dựng
b) Xây dựng, lắp đặt không bao thầu nguyên vật liệu hoặc máy móc, thiết bị đi kèm công trình xây dựng
30
 
 
50
3 Vận tải, sản xuất, kinh doanh khác 30
- Bảng 2 - Tỷ lệ thu nhập chịu thuế TNDN (có thể hiểu là thuế suất phần thuế TNDN của thuế nhà thầu):

STT


Ngành  kinh doanh

Tỷ lệ (%) thuế TNDN tính trên doanh thu tính thuế
1 Thương mại: phân phối, cung cấp hàng hoá, nguyên liệu, vật tư, máy móc, thiết bị gắn với dịch vụ tại Việt Nam  
1
2 Dịch vụ, cho thuê máy móc thiết bị, bảo hiểm 5
3 Xây dựng 2
4 Hoạt động sản xuất, kinh doanh khác, vận chuyển (bao gồm vận chuyển đường biển, vận chuyển hàng không)  
2
5 Cho thuê tàu bay, động cơ tàu bay, phụ tùng tàu bay, tàu biển  
2
6 Tái bảo hiểm 2
7 Chuyển nhượng chứng khoán 0,1
8 Lãi tiền vay       10
9 Thu nhập bản quyền 10
 
Ví dụ:
Công ty A tại Việt Nam mua phần mềm của nước ngoài với giá 10.000 USD thì thuế nhà thầu được xác định là:
- Thuế GTGT: miễn tính thuế theo Thông tư 129/2008/TT-BTC .
- Thuế TNDN: 10.000 USD   x  10% (thuế suất dành cho thu nhập bản quyền)  = 1.000 USD
Thuế Nhà thầu mà Công ty A phải nộp thay là: 1.000 USD. Số tiền mà Công ty A trả cho bên nước ngoài là 9.000 USD, sau khi đã khấu trừ 1.000 USD để nộp thuế Nhà thầu tại Việt Nam.
Nếu Bên nước ngoài vẫn "khăng khăng" đòi trả đủ 10.000 USD thì trị giá Hợp đồng mua phần mềm trong trường hợp này là chưa bao gồm thuế. Doanh thu tính thuế GTGT và thuế TNDN phải được quy đổi ra doanh thu sau thuế. Số thuế nhà thầu phải nộp trong trường hợp này sẽ là 1.111 USD theo cách tính sau:
Thuế GTGT: miễn tính thuế theo Thông tư 129/2008/TT-BTC
Thuế TNDN:  [10.000 USD / (1 - 10%) ]  x  10%  = 1.111 USD
 
Tính đúng, tính đủ
Việc xác định doanh thu chịu thuế nhà thầu dựa trên trị giá Hợp đồng và trị giá thanh toán. Nếu số tiền thanh toán cho nhà thầu tương đương với trị giá hợp đồng, tức mua bao nhiêu trả bấy nhiêu, thì doanh thu tính thuế GTGT và thuế TNDN phải quy đổi ra sau thuế theo công thức:
Doanh thu sau thuế  =  Doanh thu trước thuế  x  (100% + % thuế suất)
 Tham khảo thêm các ví dụ nêu tại Mục III Phần B Thông tư 134/2008/TT-BTC để biết cách giảm trừ chi phí hoặc cộng thêm các phụ phí khi tính thuế nhà thầu
Tác giả bài viết: H. T. Long (LVN)
Từ khóa:

việt nam, thuế

Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 
Hướng dẫn lập kế hoạch kinh doanh
quy trình quy chế kế toán

Thống kê

  • Đang truy cập: 1
  • Hôm nay: 798
  • Tháng hiện tại: 2110
  • Tổng lượt truy cập: 1648757

Tin tức mới nhất

Bài được xem nhiều nhất